Home Cuộc Sống Sơ lược về Đạo Phật

Sơ lược về Đạo Phật

39 min read

Đạo Phật là một trong những tôn giáo có lịch sử lâu đời gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người. Sự xuất hiện của đạo Phật cách đây hơn 25 thế kỷ như một nhu cầu tất yếu của lịch sử Ấn Độ nhằm đáp ứng lòng khát khao và mong mỏi một lý tưởng sống của con người thời bấy giờ.

Đạo Phật là một hệ thống triết học và tư tưởng mới về nhân sinh quan và vũ trụ luận đã được khai mở qua sự chứng ngộ của một con người lịch sử, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo từng bước du nhập vào hầu hết các quốc gia trên thế giới, đồng thời đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, giáo dục, tâm linh của con người và những xứ sở mà đạo Phật hiện diện.

“Đạo Phật” hay “Phật giáo” (Buddhism) là danh từ được sử dụng một cách rộng rãi nhằm chỉ một tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và triết học châu Á nói riêng và toàn thể thế giới nói chung. Đặc biệt, trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, giáo lý của Phật giáo đã được con người của các nước có nền kinh tế, văn hóa tiên tiến và phát triển đón nhận một cách trân trọng.

Thuật ngữ “đạo” được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Trong phạm trù triết học, đạo được hiểu như là một lý tánh tuyệt đối, là bản thể của vạn vật. Trong ý nghĩa đạo đức, đạo là trách nhiệm, là bổn phận. Trong lĩnh vực lý tưởng sống, đạo có nghĩa là con đường, là cách sống. Đạo trong ý nghĩa tôn giáo bao hàm ở nghĩa thứ ba.

Phật hay Phật Đà là dịch âm của thuật ngữ Sanskrit: “Budha”, nghĩa là người giác ngộ, người hiểu biết hoàn toàn. Một cách ngắn gọn, Phật là một danh từ chung để chỉ cho những ai đã chứng đắc giải thoát hoàn toàn bằng chính sự nỗ lực tu tập của tự thân và đem giáo lý giải thoát ấy làm lợi ích cho mọi loài. Như thế, bất cứ ai tự mình giác ngộ (tự giác) và giúp người khác giác ngộ (giác tha) đều được gọi là Phật: “Một người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện ấy đem lại hạnh phúc cho số đông, an lạc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích và hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác”.

 

Cần lưu ý rằng, cũng là tôn giáo nhưng Phật giáo có những đặc điểm tư tưởng quan trọng, khác biệt với triết lý của hầu hết các tôn giáo. Thứ nhất, nếu phần lớn các tôn giáo trên thế giới xem niềm tin là điều kiện tiên quyết để tạo nên mối quan hệ giữa tín đồ và giáo chủ, còn đạo Phật thì lấy sự hiểu biết (trí tuệ) làm nền tảng mà không phải là niềm tin thuần túy. Vì vậy, đạo Phật còn được biết là con đường tỉnh thức, hay con đường giác ngộ. Tôn chỉ hành động của Phật giáo là “duy tuệ thị nghiệp”. Hay “Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng sự đoạn tận lậu hoặc là dành cho người biết và người thấy chứ không dành cho người không biết không thấy”. Thứ hai, nếu vai trò của thần linh, chúa trời, thượng đế, giáo chủ… là trung tâm của tôn giáo thì trong đạo Phật, con người là chủ nhân của chính mình và của thế giới, vì “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Thứ ba, toàn bộ giáo lý Phật giáo là thành quả của sự tu tập, thực nghiệm của một con người lịch sử thật sự mà không phải là những lý thuyết thuần túy mang tính mặc định siêu hình, tưởng tượng do thánh thần hay thượng đế mặc khải. Con người lịch sử ấy là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Trước khi trở thành bậc giác ngộ tại Bồ đề đạo tràng, Đức Phật Thích Ca tên là Tất-đạt-đa, họ Cù-đàm (Gotama), sống vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Tây lịch. Tất-đạt-đa là thái tử của nước Cộng hòa Thích Ca (Sakya) với kinh đô là Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) thuộc vùng Bắc Ấn. Thân phụ của Ngài là vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và thân mẫu là hoàng hậu Ma-Da (Mahamaya). Với bẩm chất thông minh và nhân hậu lại đươc nuôi dưỡng trong một môi trường giáo dục lý tưởng, thái tử sớm chứng tỏ là một người có trí tuệ sáng suốt và tài năng hơn người. Khi ở độ tuổi trưởng thành, thái tử kết hôn với một công nương xinh đẹp tên là Da-du-đà-la (Yasodhara) và hai người đã có một người con trai tên là La-hầu-la (Rahula). Dù được cung phụng tất cả những thứ xa hoa của cuộc sống và được thọ hưởng mọi sự lạc thú trong cuộc đời nhưng thái tử Tất-đạt-đa vẫn không cảm thấy bình an với cuộc sống vương giả. Đặc biệt, sau khi trực tiếp tiếp xúc với đời thường và thấy rõ nỗi khổ sanh, lão, bệnh, tử của kiếp người, thái tử quyết chí xuất gia, từ bỏ ngai vàng điện ngọc để làm một Sa môn khổ hạnh lên đường tìm đạo.

Suốt sáu năm ròng rã tìm đạo, học hỏi và thực hành giáo pháp với những vị thầy danh tiếng, khép mình vào những pháp môn tu tập khổ hạnh nhất thời bấy giờ, Sa môn Cù-đàm vẫn không thỏa mãn với những thứ do các giáo pháp ấy mang lại. Từ bỏ mọi thành quả đã gặt hái được, từ bỏ những tư tưởng và pháp môn mang tính truyền thống, Sa môn Cù-đàm quyết định lên đường tìm kiếm con đường tu tập riêng cho chính mình. Sau sự kiên trì nỗ lực của tự thân, vào năm 35 tuổi, đạo sĩ Cù-đàm đã giác ngộ được nguyên lý vận hành của con người và thế giới, thấy được sự thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ tại Bồ đề đạo tràng (Bodhgaya – thuộc bang Bihar ngày nay). Từ đó Ngài được tôn xưng là Phật với ý nghĩa là con người đã giác ngộ hoàn toàn. Từ giây phút thiêng liêng đó cho đến khi nhập Niết-bàn ở tuổi 80 tại rừng cây Sa-la thuộc địa phận Câu-thi-la (Kusinaga), Đức Phật đã lên đường thuyết pháp độ sanh. Suốt 45 năm không ngừng nghỉ, ngài đã đem ánh sáng chánh pháp rọi soi cuộc đời, xây dựng lý tưởng sống có khả năng đem đến an lạc và hạnh phúc cho con người ngay tại đây và bây giờ.

Những lời dạy của Đức Phật được biên tập lại trong ba phần gọi là tam tạng bao gồm: Kinh, Luật và Luận. Một cách tổng quát, kinh là những lời dạy của Đức Phật thuyết giảng cũng như các bài pháp do các thánh đệ tử thuyết giảng mà được Đức Phật ấn chứng. Luật là những nguyên tắc, những giới điều được Phật quy định nhằm hỗ trợ cho đời sống tu hành của chúng đệ tử tại gia cũng như xuất gia. Luận bao gồm những bộ sách, chủ yếu là chú thích và giảng giải một cách rõ ràng và chi tiết lời Phật dạy để thích nghi với những yêu cầu mang tính tri thức, trình độ, văn hóa v.v… của những con người khác nhau; tác giả của các bộ Luận chủ yếu là những thánh  đệ tử của Đức Phật.

Cần lưu ý rằng nội dung chính của giáo lý Phật giáo là chỉ cho con người thấy được bản chất của khổ và phương pháp đoạn diệt nó: “Này các Tỷ-kheo, suốt 45 năm thuyết pháp ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ” (kinh Trung Bộ). Đức Phật không thật sự chú trọng đến phần triết lý siêu hình hay việc tranh luận hơn thua với đời, bởi lẽ việc ấy không đưa đến an lạc, giải thoát cho cuộc đời. Quan điểm này được Đức Phật chỉ rõ trong bài pháp “Nắm lá Simsapa”, khi Ngài cầm một nắm lá và hỏi các đệ tử. “Này các Tỷ-kheo, các thầy nghĩ thế nào? Lá trong tay ta nhiều hơn hay lá trong rừng nhiều hơn. Bạch đức Thế Tôn, lá trong tay của Thế Tôn rất ít, nhưng lá trong rừng Simsapa quả thật nhiều hơn rất nhiều. Cũng thế, này các Tỷ-kheo, Ta chỉ dạy các ông rất ít từ những gì Ta đã chứng ngộ được; những gì Ta không dạy các thầy là rất nhiều. Tại sao? Bởi vì nó không lợi ích…không đưa đến Niết-bàn”.

Quan trọng hơn thế nữa, lời Phật dạy không phải chỉ để cầu nguyện và chờ đợi kết quả của công phu cầu nguyện ở kiếp sau, mà giáo lý của ngài có khả năng đưa đến kết quả tức thời cho những ai thực tập nó ngay trong cuộc sống: “Này các Tỷ-kheo, giáo pháp của Ta là thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, không có thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình chứng hiểu”. Đặc biệt, giáo lý Phật giáo được ví như một chiếc bè để cho người ta sang sông; do vậy, dù chiếc bè có tốt đến thế nào đi nữa thì khi đã sang sông rồi người ta cần phải để bè lại bên bờ sông chứ không phải ôm chặt chiếc bè. Cũng vậy, những pháp môn tu tập khách nhau của Phật giáo chỉ là phương tiện với mục đích giúp con người tự mình ứng dụng nhằm đoạn trừ khổ đau của kiếp người, đồng thời đạt được lợi ích, an lạc, hạnh phúc trong chính cuộc sống này. Vì vậy, mọi so sánh cao thấp, lớn nhỏ, cực đoan giáo điều, chấp thủ tư tưởng đều không đúng với di ngôn của Đức Phật: “Này các Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Chư Tỷ-kheo, các ông cần hiểu ví dụ cái bè… Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”.

Như một vị lương y tài giỏi xem bệnh bốc thuốc để cứu đời, trải qua hơn 45 năm truyền bá chánh pháp, Đức Phật đã giáo hóa cho tất cả những ai có duyên với chánh pháp bằng một tâm không phân biệt, bao gồm mọi tầng lớp nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, trí thức, thường dân, vua chúa, quan lại… Giáo pháp của ngài đã giúp cho chúng sanh thấy được chân giá trị của con người và cuộc sống, giúp mọi người chọn lựa một lối sống đúng đắn, có thể đem đến lợi ích cho tự thân và tha thân. Lời xưng tán sau đây có thể xem như là sự tri ân của những người thấm nhuần Phật pháp: “Thật vi diệu, tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày”.

Trải qua gần 26 thế kỷ tồn tại và phát triển, con đường Trung đạo của Phật giáo hay nghệ thuật sống này vẫn được xem là một trong những sự lựa chọn thông minh và hiệu quả nhất cho những ai thực sự mong muốn có một nếp sống an bình và hạnh phúc, bởi vì: “Thật hiếm nhân vật trong lịch sử tư tưởng nhân loại từng có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài như Đức Phật Siddhattha Gotama, và cũng không có ai từng để lại dấu ấn sâu đậm lên toàn châu Á như Ngài. Đạo giáo do ngài sáng lập không chỉ đem lại nguồn an ủi cho vô số người mà còn cung cấp nền tảng học thuyết nhân bản cao thượng và một di sản văn hóa vô cùng tinh tế. Bài thuyết pháp đầu tiên do Đức Phật dạy tại vườn Lộc Uyển (Sarnath), gần Banares, năm 528 trước Tây lịch là một sự kiện lớn đem lại những kết quả đầy lợi lạc liên tục mãi đến thời đại này”. Đặc biệt, theo nhà vật lý xuất sắc nhất của thế kỷ XX, Albert Eisntein, “Tôn giáo của mai sau là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo  điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả bình diện tự nhiên và siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức tâm linh tiềm tàng trong vạn vật – tự nhiên lấy siêu nhiên –  như một sự hợp nhất có ý nghĩa. Phật giáo là một tôn giáo như thế, nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng những nhu cầu của khoa học hiện đại, tôn giáo ấy là Phật giáo”.

Nguồ Chùa Thiên Quang

Load More Related Articles
Load More By techgist
Load More In Cuộc Sống

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Check Also

ASUS ra mắt màn hình cong ROG STRIX XG32VQ 144Hz dành cho game thủ

ASUS ROG Strix XG32VQ là màn hình thiết kế riêng cho game thủ. Màn hình có tần số quét 144…